Bệnh viện đa khoa Sơn Động

THÔNG TIN THUỐC VÀ DƯỢC LÂM SÀNG

Thứ tư - 24/06/2026 03:04
Tổ Dược lâm sàng - TTT – Khoa Dược – VT & TBYT – Bệnh viện Đa khoa Sơn Động
Tổ Dược lâm sàng - TTT – Khoa Dược – VT & TBYT – Bệnh viện Đa khoa Sơn Động

BẢN TIN
THÔNG TIN THUỐC DƯỢC LÂM SÀNG
 
Số 01 - 2026
 
Tổ Dược lâm sàng - TTT – Khoa Dược – VT & TBYT
– Bệnh viện Đa khoa Sơn Động

 

TÀI LIỆU LƯU HÀNH NỘI BỘ

MỤC LỤC

ĐIỂM TIN 

  1. Cảnh báo về thuốc Clorocid TW3 (cloramphenicol 250mg) giả mạo.

  2. Thông báo thu hồi toàn quốc một lô thuốc bột uống Padobaby.

  3. Nguy cơ táo bón nghiêm trọng khi sử dụng các thuốc chống loạn thần.

  4. Thông báo thu hồi lô thuốc dung dịch thuốc nhỏ mắt, tai Ofleye Drops (Ofloxacin 0,3%).

CẢNH GIÁC DƯỢC

1. Nguy cơ ảo giác khi sử dụng trimethoprim: Bản tin BIP Occitanie số 04/2025

2. Cập nhật về nguy cơ rối loạn tâm thần liên quan thuốc chủ vận thụ thể GLP-1

3. Cảnh báo về nguy cơ tương tác thuốc giữa ticagrelor và atorvastatin.

4. Cập nhật thông tin từ các cơ quan quản lý dược phẩm trên thế giới về việc sử dụng Paracetamol (Acetaminophen) cho phụ nữ có thai.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Cục Quản lý Dược Việt Nam.

2. Cổng thông tin của Trung tâm Quốc gia về Thông tin thuốc và theo dõi phản ứng có hại của thuốc https:// www.canhgiacduoc.org.vn.

3. Bản tin Cảnh giác dược của Trung tâm Quốc gia về Thông tin thuốc và theo dõi phản ứng có hại của thuốc 

4. Dược thư Quốc gia Việt Nam.

Mọi ý kiến đóng góp xin gửi về Tổ Dược lâm sàng – Thông tin thuốc thuộc khoa Dược – VT & TBYT hoặc gửi email về địa chỉ: duocttbbvsd@gmail.com

Chỉ đạo nội dung: DSCKI Nguyễn Thị Thúy Hằng

Ban biên tập: 1. DSCKI Nguyễn Thị Thúy Hằng

 2. DSĐH La Thị Lan Oanh

 3. DSĐH Nguyễn Văn Nguyện

 

ĐIỂM TIN

1. Cảnh báo về thuốc Clorocid TW3 (cloramphenicol 250mg) giả mạo.

Ngày 04/12/2025, Cục Quản lý Dược vừa có Công văn số 4334/QLD-CL về sản phẩm thuốc giả mạo Viên nén Clorocid TW3 (cloramphenicol 250mg)

 

Căn cứ theo Công văn số 1739/KNTMPTPKHTCKT ngày 28/11/2025 kèm theo Phiếu kiểm nghiệm số 2026/KNT-25 của Trung tâm Kiểm nghiệm thuốc, mỹ phẩm, thực phẩm Hà Nội, Cục Quản lý Dược đã đưa Công văn cảnh báo về việc sản phẩm thuốc giả có thông tin ghi trên nhãn là Viên nén Clorocid TW3 (cloramphenicol 250mg) nhưng không chứa cloramphenicol.

Thông tin sản phẩm giả mạo: Clorocid TW3 (cloramphenicol 250mg), số đăng ký VD-25305-16, Số lô: 3333, ngày sản xuất 06/06/2024, hạn dùng 06/06/2027, đóng gói dạng lọ nhựa 400 viên; nơi sản xuất: Công ty cổ phần Dược phẩm Trung ương 3.

Liên quan đến thuốc Viên nén Clorocid TW3 (Cloramphenicol 250mg), số đăng ký VD-25305-16, do Công ty Cổ phần Dược phẩm Trung ương 3 sản xuất, Cục Quản lý Dược đã nhiều lần cảnh báo về việc các sản phẩm thuốc này sản xuất sau ngày 15/9/2019 đều là thuốc giả. Lý do Công ty Cổ phần Dược phẩm Trung ương 3 đã không còn sản xuất thuốc này sau thời điểm trên.

Để bảo đảm an toàn cho người sử dụng, Cục Quản lý Dược yêu cầu các Sở Y tế phối với các cơ quan liên quan thông tích cực điều tra và thu khẩn cấp sản phâm trên, đồng thời thông báo tới các cơ sở kinh doanh, sử dụng thuốc và người dân biết để không được mua/bán, sử dụng sản phẩm Viên nén Clorocid TW3.

Nguồn: Cảnh giác dược.

 

2. Thông báo thu hồi toàn quốc một lô thuốc bột uống Padobaby

Ngày 25/11/2025, Cục Quản lý Dược vừa có quyết định số 696/QĐ-QLD về việc thu hồi do vi phạm mức độ 3 đối với 1 lô thuốc bột uống Padobaby (Mỗi gói 3g chứa: chlorpheniramin maleat 2mg; paracetamol 325mg).

Căn cứ theo Công văn số 697/VKNTTW-KHTH ngày 30/5/2025 của Viện kiểm nghiệm thuốc Trung ương và và Công văn số 1317/VKNT-KHTH ngày 17/11/2025 của Viện kiểm nghiệm thuốc TP. Hồ Chí Minh, Cục Quản lý Dược thông báo thu hồi trên toàn quốc đối với 1 lô thuốc thuốc bột uống Padobaby. Thông tin cụ thể về lô thuốc như sau:

Thuốc thu hồi: Padobaby (Mỗi gói 3g chứa: chlorpheniramin maleat 2mg; paracetamol 325mg); dạng thuốc bột uống; Số giấy phép đăng ký lưu hành: 893100414024 (SĐK cũ: VD-32292-19); Số lô: 110224; Ngày SX: 21/02/2024; Hạn dùng: 20/02/2027 do Công ty cổ phần dược Medipharco sản xuất.

Lý do thu hồi: Mẫu thuốc không đạt tiêu chuẩn chất lượng về chỉ tiêu Định lượng Methylparaben.

Nguồn: Cảnh giác dược

 

3. Nguy cơ táo bón nghiêm trọng khi sử dụng các thuốc chống loạn thần

Táo bón là một phản ứng có hại phổ biến liên quan đến việc sử dụng thuốc chống loạn thần; vẫn luôn được cảnh báo trong tờ thông tin sản phẩm của các thuốc trong nhóm thuốc này. Gần đây, Cơ quan quản lý Dược phẩm và Sinh phẩm Y tế Pháp (ANSM) liên tục ghi nhận được các báo cáo nghiêm trọng liên quan biến cố này trên bệnh nhân sử dụng thuốc chống loạn thần. Do đó, ANSM đưa cảnh báo này nhằm nhấn mạnh tầm quan trọng của việc áp dụng các biện pháp dự phòng phù hợp, tăng cường theo dõi và xử trí sớm các triệu chứng táo bón trên bệnh nhân đang điều trị bằng thuốc chống loạn thần.

Thuốc chống loạn thần, hay còn gọi là thuốc an thần kinh, được chỉ định để điều trị các triệu chứng rối loạn tâm thần như bệnh tâm thần phân liệt và rối loạn lưỡng cực. 

Một số thuốc chống loạn thần còn được chỉ định để kiểm soát trạng thái kích động hoặc hung hăng trên bệnh nhân tâm thần, hỗ trợ các rối loạn liên quan đến bệnh lý thần kinh (như bệnh Alzheimer, bệnh Huntington...) hoặc phối hợp trong điều trị trầm cảm kháng trị mức độ nặng.

Do có tác dụng kháng cholinergic, các thuốc chống loạn thần có thể gây táo bón, đôi khi các trường hợp táo bón mức độ nặng, có thể dẫn đến các biến chứng nghiêm trọng, thậm chí gây tử vong trên bệnh nhân.

Nhắc lại khuyến cáo từ ANSM

Sau khi tham khảo ý kiến của các chuyên gia tâm thần học, ANSM nhắc lại các khuyến cáo nhằm giảm thiểu nguy cơ táo bón mức độ nặng và các biến chứng liên quan ở bệnh nhân sử dụng thuốc chống loạn thần. 

(1) Tương tác thuốc: Cần thận trọng khi phối hợp các thuốc khác với thuốc chống loạn thần cùng có tác dụng kháng cholinergic.

(2) Theo dõi chặt chẽ nhu động ruột và chức năng tiêu hóa của bệnh nhân, chủ động phát hiện sớm các dấu hiệu cảnh báo (như đau bụng, táo bón nặng, tiêu chảy không rõ nguyên nhân).

(3) Xử trí kịp thời: Trong trường hợp liệt ruột cấp tính, bác sĩ cân nhắc việc ngừng thuốc chống loạn thần, làm sạch phân bị tắc nghẽn và can thiệp ngoại khoa khi cần thiết.

(4) Cảnh báo nhóm đối tượng nguy cơ cao: Bệnh nhân từ 60 tuổi trở lên là nhóm đối tượng thường đặc biệt nhạy cảm với nhóm thuốc kháng cholinergic.

Khuyến cáo dành cho nhân viên y tế

- Đánh giá gánh nặng kháng cholinergic trong phác đồ điều trị, đặc biệt ở bệnh nhân sử dụng đồng thời nhiều thuốc có đặc tính kháng cholinergic dựa trên các thang điểm đánh giá gánh nặng kháng cholinergic.

- Nếu bệnh nhân có các yếu tố nguy cơ gây táo bón, cần thực hiện các biện pháp dự phòng thích hợp ngay khi bắt đầu sử dụng thuốc chống loạn thần. 

- Về lối sống và chế độ ăn uống: Tư vấn cho bệnh nhân áp dụng các biện pháp như uống đủ nước, khẩu phần ăn giàu chất xơ,  và có chế độ hoạt động thể chất phù hợp.

- Hướng dẫn bệnh nhân cách nhận biết các dấu hiệu cảnh báo (đau bụng, táo bón nặng, …) và nhấn mạnh tầm quan trọng của việc điều trị sớm. 

- Nhân viên y tế nên thường xuyên hỏi thăm bệnh nhân về thói quen đại tiện, ngay cả khi bệnh nhân không chủ động báo cáo.

- Rà soát các thuốc dùng đồng thời: đảm bảo rằng bệnh nhân không đang sử dụng đồng thời các thuốc khác có nguy cơ gây táo bón, chẳng hạn như thuốc chống trầm cảm 3 vòng (imipramin), thuốc điều trị Parkinson và thuốc chống co thắt kháng cholinergic.

Nguồn: Cục Quản lý Dược Việt Nam

4. Thông báo thu hồi lô thuốc dung dịch thuốc nhỏ mắt, tai Ofleye Drops (Ofloxacin 0,3%)

          Ngày 04/06/2025, Cục Quản lý Dược có công văn số 1513/QLD-CL về thông báo thu hồi thuốc vi phạm mức độ 3 đối với dung dịch thuốc nhỏ mắt, tai Ofleye Drops (Ofloxacin 0,3%).

Căn cứ theo công văn 922/KNTMPTP-KHTCKT và phiếu kiểm nghiệm từ Trung tâm kiểm nghiệm thuốc, mỹ phẩm, thực phẩm TP. Hà Nội, Cục Quản lý Dược thông báo thu hồi toàn quốc với lô thuốc này. Thông tin cụ thể về lô thuốc như sau: 

Thuốc thu hồi: Dung dịch thuốc nhỏ mắt, tai Ofleye Drops (Ofloxacin 0,3%), Số GĐKLH: 893115586524 (SĐK cũ: VD-32740-19), Số lô: 011024; Ngày sản xuất: 25/10/2024; Hạn dùng: 24/10/2027 do Công ty cổ phần dược Medipharco sản xuất.

Lý do thu hồi: Mẫu thuốc không đạt tiêu chuẩn chất lượng về chỉ tiêu Tính chất và Độ trong.

Nguồn: Cảnh giác Dược

 

CẢNH GIÁC DƯỢC

1. Nguy cơ ảo giác khi sử dụng trimethoprim: Bản tin BIP Occitanie số 04/2025

Gần đây, Cơ quan Quản lý Dược phẩm và Sinh phẩm y tế Pháp (ANSM) đã ghi nhận được trường hợp xuất hiện ảo giác sau khi sử dụng chế phẩm chứa trimethoprim đơn thành phần tại Pháp (Biệt dược: Delprim). Cụ thể, bệnh nhân nữ 76 tuổi xuất hiện ảo giác khoảng 1 giờ sau khi uống duy nhất một viên trimethoprim để điều trị viêm bàng quang. Bệnh nhân được đưa vào khoa cấp cứu, sau đó được chụp cộng hưởng từ não và kết quả hoàn toàn bình thường. Các triệu chứng này tự hết vào ngày hôm sau mà không cần ngừng các thuốc đang sử dụng đồng thời như escitalopram và aflibercept.

Hiện nay, các chế phẩm phối hợp sulfamethoxazol và trimethoprim đã đề cập ảo giác là tác dụng không mong muốn hiếm gặp, trong khi các chế phẩm trimethoprim đơn thành phần tại Pháp chưa đề cập đến phản ứng này. Các tài liệu y văn chủ yếu mô tả các trường hợp ảo giác liên quan đến dạng phối hợp sulfamethoxazol và trimethoprim với một số yếu tố nguy cơ bao gồm tuổi cao, tiền sử rối loạn tâm thần và tình trạng suy giảm miễn dịch. 

Cơ chế bệnh sinh được lý giải do sulfamethoxazol và trimethoprim có khả năng qua được hàng rào máu não và phân bố nhanh chóng vào dịch não tủy, từ đó có thể gây ra các tác dụng không mong muốn trên thần kinh và tâm thần. Ngoài ra, Trimethoprim có tác dụng ức chế enzym dihydrofolate reductase, dẫn đến giảm hình thành tetrahydrofolat là dạng hoạt động của acid folic cần thiết cho quá trình tổng hợp ADN. Nhiều nghiên cứu cho thấy thiếu hụt acid folic liên quan đến các rối loạn thần kinh và tâm thần, bao gồm sa sút trí tuệ, trầm cảm và suy giảm nhận thức. Trong trường hợp này, các tác giả cũng cho rằng nên cân nhắc việc định lượng acid folic huyết thanh để đánh giá cụ thể hơn.

Do có mối liên quan chặt chẽ về thời gian xuất hiện phản ứng và việc không xác định được nguyên nhân nào khác, nhóm tác giả đánh giá trimethoprim có nhiều khả năng là nguyên nhân gây ra biến cố ảo giác trên bệnh nhân. Và nhận định tín hiệu an toàn này cần được phổ biến và theo dõi chặt chẽ, đặc biệt khi sử dụng trimethoprim trên đối tượng bệnh nhân cao tuổi. Nguồn:https://www.chumontpellier.fr/fileadmin/medias/Services/Pharmacie/crpv/BIP-2025/BIP-2025-4.pdf

2. Cập nhật về nguy cơ rối loạn tâm thần liên quan thuốc chủ vận thụ thể GLP-1

TGA đã tiến hành một cuộc đánh giá toàn diện sau khi nhận được thông báo về một tín hiệu an toàn thuốc tiềm ẩn đối với việc sử dụng thuốc chủ vận thụ thể GLP-1 và nguy cơ xuất hiện ý định tự sát hoặc tự gây thương tích. Trong khuôn khổ cuộc đánh giá này, TGA đã tham khảo ý kiến của các chuyên gia độc lập từ Ủy ban Cố vấn về Thuốc (ACM) tại cuộc họp tháng 6 năm 2025.

Mặc dù chưa tìm thấy đủ bằng chứng về mối quan hệ nhân quả, ACM ghi nhận có sự liên quan phức tạp giữa các rối loạn tâm thần và các bệnh lý nội tiết mãn tính đang điều trị với thuốc chủ vận GLP-1, và mối liên quan tiềm ẩn giữa giảm cân và xuất hiện ý định tự sát hoặc tự gây thương tích. 

Các thuốc đồng vận thụ thể GLP-1 hiện đang lưu hành trên thị trường Việt Nam bao gồm: Ozempic (semaglutid), Saxenda (liraglutid), Trulicity (dulaglutid).

Cập nhật trong thông tin sản phẩm

Thông tin sản phẩm của tất cả các thuốc đồng vận thụ thể GLP-1 được cập nhật như sau (ngoại trừ thông tin của Biệt dược: Saxenda do đã có nội dung phù hợp):

Rối loạn tâm thần

Hành vi và ý định tự sát đã được báo cáo khi sử dụng thuốc đồng vận thụ thể GLP-1. Theo dõi sự xuất hiện hoặc trầm trọng hơn của tình trạng trầm cảm, suy nghĩ hoặc hành vi tự sát và/hoặc bất kỳ thay đổi bất thường nào về tâm trạng hoặc hành vi của bệnh nhân. Cân nhắc lợi ích và nguy cơ đối với từng bệnh nhân trước khi bắt đầu hoặc tiếp tục điều trị ở những bệnh nhân có suy nghĩ hoặc hành vi tự sát hoặc có ý định tự sát.

Các tác dụng không mong muốn được báo cáo

Tìm kiếm Cơ sở dữ liệu về Thông báo Biến cố bất lợi (DAEN) của TGA vào ngày 23 tháng 9 năm 2025 đối với nhóm thuốc đồng vận thụ thể GLP-1 (semaglutid, liraglutid, dulaglutid và tirzepatid) đã cho thấy:

- 72 báo cáo về ý định tự sát

- 6 báo cáo về tự sát do trầm cảm

- 4 báo cáo về hành vi tự sát

- 2 báo cáo về tự sát

- 1 báo cáo về ý định tự gây thương tích

Khuyến cáo cho nhân viên y tế

Các chuyên gia y tế nên theo dõi sự xuất hiện hoặc trầm trọng hơn của tình trạng trầm cảm, suy nghĩ hoặc hành vi tự tử, hoặc bất kỳ thay đổi bất thường nào về tâm trạng hoặc hành vi.

Cân nhắc lợi ích và nguy cơ đối với từng bệnh nhân trước khi bắt đầu hoặc tiếp tục điều trị ở những bệnh nhân có suy nghĩ hoặc hành vi tự sát.

Khuyến cáo người bệnh báo cáo nhân viên y tế nếu gặp phải tình trạng trầm cảm mới xuất hiện hoặc trầm trọng hơn, có ý định tự sát hoặc bất kỳ thay đổi bất thường nào về tâm trạng hoặc hành vi.

Nguồn: https://www.tga.gov.au/news/safety-updates/glp-1-ras-warnings-aligned-over-potential-risk-suicidal-thoughts-or-behaviours

 

3. Cảnh báo về nguy cơ tương tác thuốc giữa ticagrelor và atorvastatin.

Báo cáo case lâm sàng

Bệnh nhân nam 52 tuổi, được chẩn đoán nhồi máu cơ tim cấp có ST chênh lên (STEMI) từ năm 30 tuổi, đã được đặt stent và điều trị nội khoa bằng aspirin, enalapril, lovastatin. 17 năm sau, bệnh nhân xuất hiện tình trạng tăng sinh nội mạc vôi hóa nghiêm trọng tại vị trí đặt stent và được điều trị bằng nong bóng (balloon angioplasty) và kết hợp phá vôi lòng mạch (intravascular lithotripsy). Liệu pháp điều trị nội khoa sau đó đổi thành aspirin 100mg, ezetimib 10mg mỗi sáng, atorvastatin 10mg mỗi tối. Khi 51 tuổi, bệnh nhân có đợt STEMI lần 2, bác sĩ phẫu thuật sau đó đã tiến hành loại bỏ huyết khối động mạch vành, nong bóng và truyền tĩnh mạch eptifibatid trong 24 giờ. Do xuất hiện đợt STEMI lần 2, liệu pháp kháng tiểu cầu được thay đổi thành ticagrelor 90mg, 2 lần/ngày, và tiếp tục duy trì ezetimib 10mg, atorvastatin 10mg. 4 tháng sau khi khởi trị với ticagrelor, phát hiện nồng độ creatin kinase (CK) trong huyết thanh tăng cao 2.222 U/L, và tiếp tục tăng đến 3.225 U/L trong 4 ngày tiếp theo. Các xét nghiệm chức năng gan ALT, AST, ALP cũng đều tăng cao. Ngoài tình trạng yếu cơ toàn thân, khám lâm sàng không phát hiện bất thường nào khác, kết quả troponin I độ nhạy cao ở mức bình thường, không có bằng chứng rõ ràng về các bất thường trong màu sắc của nước tiểu.

Ban đầu, tình trạng CK trong huyết thanh tăng cao bất thường được quy kết do bệnh lý tim mạch sẵn có trên người bệnh, viêm cơ do miễn dịch hoặc tổn thương cơ do statin. Tuy nhiên, xét nghiệm điện tâm đồ (ECG), troponin I độ nhạy cao (hs-TNI) đều cho kết quả bình thường, do đó loại trừ khả năng bệnh nhân bị nhồi máu cơ tim cấp tái phát. Đồng thời, các kết quả cận lâm sàng sau đó cũng loại trừ nguyên nhân do miễn dịch. Khi đánh giá tổng thể, tình trạng tăng cao CK, ALT, AST và ALP trong huyết thanh cho thấy bệnh nhân có thể bị tổn thương cơ xương hơn là cơ tim. Mặc dù liều atorvastatin sử dụng trên bệnh nhân tương đối thấp, song các bằng chứng lâm sàng xác định các triệu chứng của bệnh nhân liên quan đến statin. Một nghiên cứu trước đó cũng đã chứng minh tương tác thuốc giữa ticagrelor và atorvastatin làm tăng nồng độ atorvastatin trong huyết thanh lên khoảng 1,3 lần. Tuy nhiên, không gây gia tăng đáng kể sự phơi nhiễm toàn thân của atorvastatin nên không có chống chỉ định sử dụng đồng thời ticagrelor và atorvastatin.

Tương tác thuốc - thuốc giữa ticagrelor và các statin

Ticagrelor là một thuốc ức chế thụ thể P2Y12 thuận nghịch đường uống, có tác dụng ức chế tiểu cầu mạnh giúp ngăn ngừa biến cố tim mạch do huyết khối, bao gồm tử vong do nguyên nhân tim mạch, nhồi máu cơ tim và đột quỵ. Trên bệnh nhân có nguy cơ cao mắc biến cố huyết khối cấp tính, ticagrelor thường được sử dụng đồng thời với aspirin, với mức liều khuyến cáo 90mg, 2 lần/ngày trong năm đầu, sau đó điều trị duy trì với 60mg, 2 lần/ngày.

Tương tác giữa ticagrelor và các statin có thể xảy ra theo nhiều cơ chế dược động học khác nhau, tuy nhiên hệ quả cuối cùng là gây tăng nồng độ các statin trong máu. Trong đó, có sự tham gia của cơ chế ức chế ABCG2 - một protein ức chế ung thư vú (BCPR) và là chất trung gian trong quá trình thải trừ nhiều loại thuốc ở ruột non. Một số báo cáo đã xác định khả năng ức chế BCPR của ticagrelor và ức chế quá trình thải trừ của các thuốc qua ruột non, qua đó góp phần làm tăng nồng độ của các thuốc là cơ chất của protein này như atorvastatin và rosuvastatin. Đối với bệnh nhân người châu Á là nhóm đối tượng có nhiều biến thể di truyền gen ABCG2, góp phần giảm thải trừ thuốc ở ruột non, tương tác này có thể có nhiều ý nghĩa trên lâm sàng hơn các nhóm bệnh nhân khác.

Một cơ chế khác có thể giải thích cho tương tác giữa ticagrelor và atorvastatin liên quan đến quá trình ức chế enzym CYP3A4. Ticagrelor thuộc nhóm thuốc ức chế enzym CYP3A4, trong khi đó enzym này chịu trách nhiệm cho quá trình chuyển hóa atorvastatin và simvastatin, sự kết hợp các thuốc này có khả năng làm tăng nồng độ các statin trong huyết tương dẫn đến tăng nguy cơ xuất hiện các tác dụng không mong muốn của các thuốc nhóm ức chế HMG-CoA (hay các statin). Tuy nhiên, ticagrelor không được coi là chất ức chế CYP3A4 đủ mạnh để gây ra các tác dụng không mong muốn có ý nghĩa trên lâm sàng đối với nhóm thuốc trên. Mặt khác, đối với các thuốc ức chế HMG-CoA khác như pravastatin, pitavastatin không chuyển hóa đáng kể qua CYP3A4, do đó, tương tác với ticagrelor có thể ít ý nghĩa trên lâm sàng hơn.

Khuyến cáo từ HSA 

Đến thời điểm hiện tại, Cơ quan Khoa học Y tế Singapore (HSA) chưa ghi nhận được thêm báo cáo nào khác liên quan đến biến cố bất lợi trên cơ khi sử dụng đồng thời ticagrelor và chất ức chế HMG-CoA. Ý nghĩa trên lâm sàng của tương tác giữa ticagrelor và thuốc ức chế HMG-CoA vẫn chưa đầy đủ dù một số báo cáo biến cố bất lợi về tương tác này đã được công bố. Theo đó, HSA khuyến cáo các chuyên gia y tế cần nhắc đến nguy cơ tương tác thuốc-thuốc này trên bệnh nhân, kể cả những người bệnh không có tiền sử bệnh cơ khi điều trị bằng các thuốc ức chế HMG-CoA trước đây.

 

Nguồn:https://www.hsa.gov.sg/docs/default-source/announcements/adverse-drug-reaction-news-bulletin/adr_news-dec-2025-vol-27-no-3.pdf?sfvrsn=a2e43a4a_1

 

  1. Nguy cơ nhiễm toan chuyển hóa có tăng khoảng trống anion khi sử dụng paracetamol

Nhiễm toan chuyển hóa là một rối loạn cân bằng acid-base đặc trưng bởi pH máu thấp và HCO₃⁻ thấp. Tình trạng này có thể gây đe dọa tính mạng, đặc biệt là ở những bệnh nhân mắc kèm các bệnh lý như bệnh thận mạn hoặc suy gan mất bù. 

Nhiều phương pháp để phân loại nguyên nhân của nhiễm toan chuyển hóa, trong đó dựa trên khoảng trống anion (AG) là phổ biến nhất. Khoảng trống anion (AG) được tính toán dựa trên sự cân bằng giữa các cation chính (như natri, hoặc kali) và các anion đo được (clorid, bicarbonat) trong máu. Tăng khoảng trống anion thường do sự sự xuất hiện của của các anion khác không đo lường được trong máu. 

Nhiễm toan chuyển hóa có AG cao là một dạng nhiễm toan chuyển hóa liên quan đến sự tích tụ acid trong máu và đặc trưng bởi khoảng trống anion tăng. Nguyên nhân bao gồm: nhiễm toan lactic, nhiễm toan ceton, suy thận và nhiễm độc.

Pyroglutamate (5-oxoprolin) là một chất chuyển hóa góp phần gây tăng AG, cũng có thể là một nguyên nhân gây nhiễm toan chuyển hóa AG cao. Trong khi đó, quá trình chuyển hóa paracetamol có thể dẫn đến tích tụ pyroglutamate (hay còn gọi là nhiễm toan pyroglutamic), đặc biệt khi nồng độ glutathion ở mức thấp. 

Nguy cơ nhiễm toan chuyển hóa có AG cao do paracetamol

Nguyên nhân của tình trạng nhiễm toan chuyển hóa có AG cao do paracetamol, xuất phát từ nhiễm toan pyroglutamic. Các biến cố bất lợi này đã được ghi nhận trên những bệnh nhân nặng (như suy thận, nhiễm trùng huyết), suy dinh dưỡng hoặc nghiện rượu, và đang sử dụng paracetamol dài ngày ở mức liều điều trị. Nguy cơ cao hơn khi bệnh nhân được sử dụng đồng thời kháng sinh flucloxacillin. 

Định lượng 5-oxoprolin trong nước tiểu là một phương pháp hữu ích để xác định nhiễm toan pyroglutamic là nguyên nhân gây nhiễm toan chuyển hóa có AG cao ở những bệnh nhân với nhiều yếu tố nguy cơ.

Medsafe khuyến cáo nhân viên y tế ngừng thuốc ngay, theo dõi chặt chẽ bệnh nhân và tuân thủ các hướng dẫn điều trị tại cơ sở y tế khi nghi ngờ bệnh nhân có nhiễm toan chuyển hóa AG cao khi đang sử dụng paracetamol.

Báo cáo ca tại New Zealand

Tính đến 30/09/2025, Cơ quan Quản lý Dược phẩm New Zealand (Medsafe) đã ghi nhận 4 trường hợp nhiễm toan chuyển hóa liên quan đến paracetamol. Flucloxacillin là thuốc được sử dụng đồng thời trong 3/4 trường hợp nêu trên. Các biến cố bất lợi được báo cáo bao gồm: nhiễm toan, bất thường khoảng trống anion, nhiễm toan chuyển hóa và/hoặc nhiễm toan pyroglutamic.

Nguồn: https://www.medsafe.govt.nz/profs/PUArticles.asp

 

TỔ DƯỢC LÂM SÀNG – THÔNG TIN THUỐC

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

/uploads/news/2026_06/ban-tin-thuoc-so-1-2026.doc

Nguồn tin: Bệnh Viện Đa Khoa Sơn Động

Tổng số điểm của bài viết là: 1 trong 1 đánh giá

Xếp hạng: 1 - 1 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây